Thứ Hai, 31 tháng 8, 2015

Chỉ cần tôn trọng Nhân quyền, đất nước sẽ phát triển

TUANVIETNAM ››
70 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9:

Đất nước muốn phát triển, con người phải được tự do

Để đất nước phát triển, con người cần không gian tự do sáng tạo. Do đó, trong một xã hội dân chủ, về nguyên tắc không gian tự do cần tương đối rộng và ngược lại những hạn chế quyền tự do phải tương đối hẹp.
Quyền con người trong Tuyên ngôn độc lập 1945…
Ngay trong những ngày đầu của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa độc lập, cụ thể ngày 17/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Ngày nay, chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nhưng nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”.
Hồ Chí Minh cũng đã thể hiện rõ tư tưởng bảo đảm quyền tự do của nhân dân trong bản Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945. Ngay từ những câu đầu tiên, Người đã trích dẫn những “lời bất hủ” (nguyên văn chữ dùng của Bác) trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của Hoa Kỳ do Thomas Jefferson soạn thảo: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc".
Người còn nhắc lại Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 như một sự lên án đanh thép tội ác của thực dân Pháp đã “lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta… tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào… thi hành những luật pháp dã man”.
Tại sao Người lại nhấn mạnh trong Tuyên ngôn độc lập một tư tưởng từ tuyên ngôn độc lập và dân quyền của các quốc gia tư bản? Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trả lời ngay trong Tuyên ngôn độc lập 1945: “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”. Hồ Chí Minh đã phân biệt rạch ròi giữa chế độ chính trị của một quốc gia và chân lý, giá trị phổ quát của nhân loại.
Thật vậy, các quốc gia dù khác nhau về chế độ chính trị đều phải hướng tới mục tiêu bảo vệ các quyền và tự do căn bản và đem lại cuộc sống hạnh phúc cho người dân.
Ba năm sau Tuyên ngôn độc lập của VNDCCH và cũng là ba năm sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Đại Hội đồng Liên hiệp quốc, thông qua bản Tuyên ngôn Phổ quát về Quyền con người 1948 (Universal Declaration of Human Rights), cũng đã nhấn mạnh ngay từ đầu: “Sự công nhận nhân phẩm của mọi người trên toàn thế giới và các quyền bình đẳng không thể tước đoạt của họ chính là nền tảng của tự do, công lý và hòa bình trên thế giới”.
Trải qua bao xương máu của nhân loại, đặc biệt từ đau thương của Chiến tranh thế giới thứ hai, Tuyên ngôn Phổ quát về Quyền con người đúc kết: “Hành vi xem thường và chà đạp nhân quyền đã dẫn đến những hành động man rợ, xúc phạm đến lương tâm nhân loại. Việc tiến đến một thế giới trong đó tất cả mọi người được hưởng tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, không còn lo sợ hãi và nghèo khó, phải được coi là ước vọng cao nhất của con người”.
Đến Hiến pháp 1946…
Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam đã khẳng định ngay trong lời nói đầu ba nguyên tắc căn bản của Hiến pháp là: “Đoàn kết toàn dân, không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn giáo; Đảm bảo các quyền tự do dân chủ; Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân”. Suy cho cùng, đây cũng chính là nguyên tắc “nhà nước của dân, do dân, vì dân” do Tổng thống Mỹ Abraham Lincoln đúc kết (“Government of the people, by the people, for the people, shall not perish from the Earth”).
Lời nói đầu Hiến pháp 1946 cũng nhắc nhở chúng ta rằng “chủ quyền cho đất nước” và “tự do cho nhân dân” luôn song hành. Điều đó thể hiện triết lý sứ mệnh của một nhà nước có chủ quyền không gì khác nhằm “đảm bảo các quyền tự do dân chủ” cho nhân dân. Tiếp đó, Chương II đã long trọng tuyên bố sự công nhận và cam kết bảo đảm các quyền con người phổ quát. Nhìn một cách tổng thể, Hiến pháp 1946 đã thể hiện những tư tưởng chính trị-pháp lý tiến bộ và hoàn toàn có thể là điểm sáng so với các hiến pháp cùng thời trên thế giới.
Hiến pháp, quyền con người, nhân quyền, độc lập, quốc khánh
Quốc hội biểu quyết thông qua dự thảo Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam. Ảnh: An Đăng - TTXVN
…và Hiến pháp 2013
Hiến pháp hiện hành tiếp tục khẳng định “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân” (khoản 1 Điều 2) và “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân” (Điều 3).
Như vậy, Hiến pháp 2013 đã thể hiện triết lý quyền con người không phải do nhà nước ban phát mà các quyền do “tạo hóa” sinh ra gắn với mỗi người. Theo đó, quyền con người phải được Nhà nước “công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm”.
Trong số các quyền con người được Hiến pháp ghi nhận và bảo vệ, chỉ có một số ít quyền tuyệt đối, tức không bị giới hạn trong bất kỳ trường hợp nào. Quyền được tôn trọng về nhân phẩm, trong đó bao gồm quyền không bị làm nô lệ, quyền không bị tra tấn và đối xử một cách tàn ác, được phần đông thừa nhận mang tính tuyệt đối, không thể bị hạn chế.
Ngoài những quyền tuyệt đối, các quyền còn lại đều có thể bị giới hạn ở những mức độ khác nhau. Sự giới hạn quyền là hiện tượng bình thường và phổ biến ở mọi quốc gia.
Tuy vậy, việc hạn chế này không được tùy tiện và phải tuân theo những nguyên tắc. Tuyên ngôn Phổ quát về Quyền con người 1948, văn bản được coi là kết tinh của tinh hoa và chuẩn mực toàn cầu, đã quy định nguyên tắc giới hạn quyền con người này tại Điều 29: “Trong việc thực thi các quyền và tự do, mọi người chỉ phải chịu những hạn chế do luật định, nhằm mục tiêu bảo đảm sự thừa nhận và tôn trọng quyền, và quyền tự do của những người khác, cũng như nhằm thỏa mãn những đòi hỏi chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng, và nền an sinh chung trong một xã hội dân chủ”.
Tiếp thu tư tưởng này, Hiến pháp 2013 ghi nhận: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng” (khoản 2, Điều 14). Đây là bước tiến lớn trong tư duy lập hiến ở Việt Nam.
Nguyên tắc này đảm bảo một không gian hợp lý để công dân “tự do” thực hiện quyền của mình, miễn là không lấn vào những phần bị nhà nước “hạn chế”. Thời đại ngày nay, mọi quốc gia giống nhau ở chỗ đều công nhận các quyền và tự do cơ bản, chỉ khác nhau ở phạm vi các quyền bị giới hạn và phương pháp đặt ra vùng bị giới hạn đó.
Nhằm thực hiện khoản 2 Điều 14 Hiến pháp một cách đúng đắn, trước hết, việc nhà nước giới hạn các quyền công dân phải được quy định bằng pháp luật rõ ràng và minh bạch và có lý do chính đáng – tức nhằm bảo vệ quyền của người khác và lợi ích chung của xã hội. Đối với những quyền mà việc thực hiện nó không làm ảnh hưởng đến người khác và lợi ích chung của xã hội, các nhà nước không có lý do chính đáng để hạn chế. Chẳng hạn, nhà nước không cần can thiệp vào những việc như người dân treo tranh gì trong nhà, nhưng có quyền hạn chế số tầng của ngôi nhà nhằm đảm bảo mỹ quan đô thị hay an toàn xây dựng.
Thứ hai, việc hạn chế quyền phải phù hợp với mục tiêu. Chẳng hạn, nhằm đảm bảo trật tự an toàn giao thông, nhà nước có thể phạt tiền người vi phạm luật chứ không thể cấm người dân sở hữu xe. Ngoài ra, việc hạn chế quyền cần vừa đủ nhằm đạt được mục tiêu. Ví dụ, nhằm răn đe người vượt đèn đỏ, việc phạt tiền nghiêm khắc là đủ mà không cần phải phạt tù; nhưng đối với người uống rượu lái xe, phạt tù ngắn hạn là phù hợp.
Thứ ba, lợi ích của việc hạn chế quyền phải lớn hơn thiệt hại do việc hạn chế đó gây ra. Có thể lấy bài học về quyền tự do kinh doanh làm thí dụ. Thời bao cấp, quyền tự do kinh doanh bị hạn chế khá lớn, đã kìm hãm nền kinh tế. Theo đó người dân chỉ có thể tham gia kinh doanh tập thể của nhà nước mà không thể thành lập doanh nghiệp tư nhân. Điều này chứng minh việc hạn chế quyền không hợp lý, trái với quy luật phát triển sẽ không đem lại lợi ích mong đợi.
Kể từ đổi mới kinh tế, người dân được mở doanh nghiệp tư. Về tổng thể, khi tự do của người dân được giải phóng, của cải xã hội được tạo ra nhiều hơn và có chất lượng tốt hơn thời tập trung quan liêu bao cấp.
Tóm lại, mỗi nhà nước muốn hạn chế quyền công dân cần tính đến tính chính đáng, tính phù hợp và tính ích lợi xã hội. Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp phải là kim chỉ nam cho việc xây dựng các luật liên quan mật thiết đến quyền và tự do cá nhân như Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự, Luật tiếp cận thông tin, Luật lập hội, Luật biểu tình, Luật tôn giáo.
Quyền con người và nhà nước kiến tạo phát triển
Để phát triển, quốc gia cần phải phát huy tiềm lực con người. Muốn vậy, con người cần không gian tự do sáng tạo. Do đó, trong một xã hội dân chủ, về nguyên tắc không gian tự do cần tương đối rộng và ngược lại những hạn chế quyền tự do phải tương đối hẹp.
Tất nhiên, mối tương quan giữa tự do-hạn chế này khác nhau giữa các quốc gia và cũng khác nhau giữa các quyền. Nền pháp quyền hiện đại luôn đòi hỏi một “chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân” (Lời nói đầu Hiến pháp 1946 nêu trên) phải viện dẫn lý do chính đáng và tính toán những lợi ích xã hội khi muốn hạn chế tự do của người dân. Thực hiện đúng đắn Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp là một chỉ số của nhà nước kiến tạo phát triển.
(Giảng viên Khoa Luật-ĐHQGHN, NCS Đại học Macquarie, Australia)

Thứ Năm, 27 tháng 8, 2015

Đừng tưởng

“Đừng tưởng cứ núi là cao
Cứ sông là chảy, cứ ao là tù
Đừng tưởng cứ dưới là ngu
Cứ trên là sáng cứ tu là hiền
Đừng tưởng cứ đẹp là tiên
Cứ nhiều là được cứ tiền là xong
Đừng tưởng không nói là câm
Không nghe là điếc không trông là mù....”
Bùi Giáng




Đừng tưởng lá vàng đã thu
cứ Xuân hương sắc, Đông mù tuyết bay
Cứ thấy đàn giỏi hát hay
tưởng dân “văn hóa”, mà đầy tính gian
Đừng thấy dịu ngọt tưởng ngoan
Đừng nghĩ có học thì toàn người khôn
Cứ thấy trăng sáng tưởng tròn
Thấy chút tài mọn tưởng hơn được người
Cứ thấy mật, tưởng ngọt môi
Coi chừng lừa đảo nói lời dễ nghe
Đừng tin vào những câu thề
ham kẻ khoe mẽ, mà chê bạn vàng
Đừng thấy mặc diện tưởng sang
thấy anh cao lớn, tưởng chàng tốt dây
Thấy kẻ ba phải, khen hay
giỏi bắt nạt vợ, chính tay gian hùm
Đừng tưởng vại cũng giống chum
tưởng Sung giống Vả, cùng chùm trên cây
Cứ thấy hiền, tưởng người ngay
hóa quân lường gạt bậc thầy giả sư
Đừng thấy người nhịn, tưởng ngu
Làm ngơ không nói, tưởng mù mà khinh
Đừng nghe nịnh, tưởng thật tình
Đừng thấy õng ẹo, mà rinh ngay về
Đừng thấy giản dị mà chê
thấy người vận hạn mà dè bỉu môi
Đừng tưởng mình sướng cả đời
Muốn gì cũng có, khơi khơi khoe giầu
Đừng nghĩ người chẳng biết đau
cứ nhằm khuyết tật mà châu miệng bàn
Đừng nghĩ là vợ phải ngoan
Ra vào hoạnh họe, sẽ tan cửa nhà
Đừng ghen ghét với người ta
Phận mình trời định, coi là rủi may.
Đừng cậy quyền xuống quá tay
Oan thời báo oán, có ngày trả thôi
Đừng buông phí cả một đời
Thời gian vuột mất, già ngồi đó than
Đừng tham quá, có ngày tàn
Chớ đừng hoạnh họe, đừng gian hại người
Chức quyền, tiền cũng “bạc” thôi
Ông Trời có mắt, con thời gánh thay....


TSB

Hạnh phúc kiếm tìm




Tìm đâu cho được người đàn ông
Chia sẻ, yêu thương, xứng đáng chồng?
Điểm tựa riêng mình khi khốn khó
Chân tình, chung thủy thỏa lòng mong

Tìm đâu cho thấy nguồn khơi trong
Cho “hạt mưa sa” ngọt mát lòng?
Cho chiếc thuyền nan dầu mỏng mảnh
Cũng trôi thong thả về bến mong

Bao mùa Én đợi giữa trời trong
Khao khát Xuân sang hưởng gió nồng
Nắng ấm sưởi hồn tan giá lạnh
Chao mình đùa rỡn voi non sông

Gần hết thu tàn ta gặp nhau
Sương rơi lấp lánh sáng trên đầu
Phai dần ánh mắt huyền trong sáng
Hạnh phúc ngọt ngào ta có nhau.


TSB

XIN LỖI HÀ NỘI!


TSB vốn là người Hà Nội gốc, đọc được bài này, thấy mát dạ. Tác giả Mạc Văn Trang đã hiểu rất sâu sắc về tính cách người Hà Nội gốc. Và những tính cách này mãi truyền lại cho con cháu mai sau như một báu vật di truyền. Vì vậy, chỉ cần nhìn cách khu xử theo nhận xét của ông: "họ biết rộng, làm gì cũng cân nhắc cẩn trọng; họ quá nhạy cảm, tế nhị, ngại va chạm, sợ làm tổn thương người khác và rất sợ bị tổn thương... Với sự lịch lãm, tài hoa, tâm hồn phong phú, tinh tế của mình, họ thường sáng tạo được những giá trị cao trong các lĩnh vực khoa học, âm nhạc, hội họa, văn học..." Bạn sẽ nhận được ra người Hà Nội thực sự, dù ho đang phiêu dạt ở chốn nào. Xin chân thânh cám ơn tác giả bài viết đã nói hộ giùm những NGƯỜI HÀ NỘI thực sự. Họ không viết ra không phải vì họ không biết, mà vì không muốn tự khoe mình làm buồn lòng những người "mới nhập cư".

MẠC VĂN TRANG

  Đúng vào dịp 10 ngày Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long- Hà Nội, tôi lại có việc phải vào Sài Gòn. Nhưng trước hôm đi, tối 1/10, ngày khai mạc Đại Lễ tôi đã tranh thủ chạy xe máy dạo quanh Hồ Gươm, Ba Đình và mấy phố chính, cảm nhận không khí Đại Lễ để vào còn có cái khoe với bà con trong Nam, đang ngóng trông về Hà Nội.
   Ngay buổi tối hôm ấy tôi đã cảm thấy điều gì đó không ổn. 
   Những dòng người chen chúc nhau lộn xộn khắp các phố phường ở trung tâm. nhất là quanh bờ Hồ, trước tượng đài Lý Thái Tổ... Người ta háo hức, xô đẩy nhau như vào sân vận động xem đá bóng, chứ không phải để trải nghiệm những giá trị đặc sắc của Thăng Long- Hà Nội, nơi "lắng hồn núi sông ngàn năm"...

   Rồi dù xa Hà nội, tôi vẫn tối tối theo dõi các hoạt động Đại lễ được chiếu trên Tivi, đặc biệt là chăm chú xem buổi truyền hình trực tiếp lễ Diễu binh, diễu hành "lớn nhất trong lịch sử" tại quảng trường Ba Đình sáng 10/10 và Đêm hội Văn hóa, nghệ thuật kết thúc Đại Lễ tại sân vận động Mỹ Đình tối 10/10. Tất cả đã qua đi, còn lại cảm nhận: lễ hội thật công phu, hoành tráng, tưng bừng, đông đúc... Nhưng sao vẫn không thấy tâm hồn xao xuyến, lâng lâng và con tim nhiều rung động tha thiết, tự hào về Hà Nội?
   Đêm khuya, Sài Gòn mưa lạnh như tiết trời thu Hà Nội, tôi vẫn nằm trằn trọc. Rồi chợt nhớ ra điều gì, tôi bật dậy mở máy tính, tìm trên mạng ‘Những ca khúc nổi tiếng về Hà Nội" và mở ra, nằm nghe một mình trong đêm tĩnh mịch. "Đây Hồ gươm, Hồng Hà, Hồ Tây... Đây lắng hồn núi sông ngàn năm"...; "Hà Nội ơi, phố phường dãi ánh trăng mơ, liễu mềm như gió ngây thơ"...; "Hồ Gươm hôm nay chiều về thu, làn nước xanh xanh lặng lờ trôi, soi bóng tháp Rùa như đắm chìm trong nắng vàng"... Lạ lùng thật, chỉ nghe hát thôi, không có hình ảnh minh họa như xem Video ca nhạc, mà từng lời hát lan tỏa trong tâm hồn lại hiện lên một Hà  Nội linh thiêng, sâu lắng, êm đềm, mơ mộng, sang trọng khiến con tim dâng lên bao nỗi niềm yêu thương, tự hào rưng rưng khôn tả xiết... Ngay cả những thời khắc nguy nan 1972, B52 Mỹ ném bom hủy diệt thì  "Mặt hồ Gươm vẫn lunh linh mây trời, càng tỏa ngát hương thơm hoa Thủ đô, ... chân ta bước lòng ung dung tự hào"... Rồi sau chiến tranh, những tháng năm đầy kham khổ, túng bấn thì: "Em ơi Hà Nội phố, ta còn em mùi hoàng lan, ta còn em mùi hoa sữa..." và " Hà Nội mùa thu, cây cơm nguội vàng, cây bàng lá đỏ nằm kề bên nhau, phố xưa nhà cổ, mái ngói thấm nâu... Chiều thu Hồ Tây... đàn sâm cầm nhỏ vỗ cánh mặt trời"..., "Tây Hồ mênh mông... sương thu lan trong gó...". Rồi người Hà Nội ra đi bốn phương... "Ôi nhớ hồ Gươm xanh thắm, nơi tháp rùa nghiêng soi bóng, thành cũ Thăng Long, hồn nước non thiêng còn lắng đâu đây, dấu xưa oai hùng..." . Lạ lùng nhất là bài hát Tiến về Hà Nội của Văn Cao viết năm 1949, khi cuộc kháng chiến còn chủ yếu với súng kíp, gậy tày, lựu đạn... mà đến mùa Thu 1954, ngày 10 tháng Mười đoàn quân chiến thắng tiến vào Hà Nội đúng theo "kịch bản" của Văn Cao. "Trùng trùng quân đi như sóng ... lấp lánh lưỡi lê sáng ngời...Chúng ta đi nghe vui lúc quân thù đầu hàng... Thật trầm hùng, hào sảng mà mà dung dị, êm đềm đúng với hình ảnh những người con của Hà Nội chiến thắng trở về sáng láng, hân hoan, thân thiết với nhân dân... Đó không phải là những chiến binh khí thế ngút trời, hùng hổ, nện gót giầy rầm rập tiến vào thành phố. Và dân Hà Nội cũng không xô đẩy, chen nhau, chạy bổ ra đường, hò hét, nhảy cẫng lên, vồ vập ôm hôn các chiến sĩ... Đúng như lời Văn Cao: "Trùng trùng say trong câu hát... Năm cửa ô đón mừng...nở năm cánh đào chảy dòng sương sớm long lanh..." Người Hà Nội mừng vui khôn xiết, đứng kín hai bên đường nhưng cử chỉ vẫn chừng mực, giữ gìn, lịch thiệp. Các mẹ các cô mặc áo dài, nét mặt rạng ngời, tay cầm hoa tươi và những lá cờ nhỏ đón đoàn quân trong nụ cười và nước mắt; các chàng trai thì đánh đàn, kéo acooc và hát vang cùng đoàn quân...  "Chúng ta ươm lại hoa, sắc hương phai ngày xa, ôi phố phường Hà Nội xưa yêu dấu...". Cảnh tượng ấy, không khí ấy thật đặc sắc, chưa thấy ở đâu, đúng là tâm hồn, cốt cách Hà Nội, thể hiện chiều sâu và tầm cao văn hiến Thăng Long -  Hà Nội.
   Có phải cái thiếu chính là 10 ngày Đại lễ đã không thấy được hồn cốt ấy của Hà Nội? Nhưng tại sao?...

   Ngày 13/10 tôi ra Hà Nội, vợ tôi bảo, may quá anh đi hộ đám cưới con cô em họ, còn em đi đám cưới con bà bạn bên hàng xóm. Tôi lại tranh thủ chạy xe máy qua mấy phố trung tâm và quanh Hồ Gươm. Đúng là không còn một thảm cỏ xanh nào sống sót; còn ngổn ngang nhiều thứ và cờ phướn, khẩu hiệu, đèn lồng ... vẫn đỏ rực khắp nơi... Nhưng không đến nỗi như một số người kêu "Sau Đại lễ, Hà Nội như cơn bão đi qua", "Cả Hà Nội như một bãi rác khổng lồ!...". Không! Hà Nội đang đẹp trở lại. Đó là nhờ những anh chị em lao động Vệ sinh Môi trường đã miệt mài, cắm cúi quét dọn, chuyên chở rác suốt ngày đêm không ngừng nghỉ để Hà Nội được gọn gàng, sach sẽ. Và những anh chị em trồng hoa, chăm sóc hoa khắp Hà Nội trước, trong và sau Đại Lễ. Những bồn hoa, chậu hoa tươi rực rỡ tỏa sắc hương khắp Hà Nội, nhất là quanh Hồ Gươm, quảng trường Ba Đình. Các thảm hoa kết hình rồng và các biểu tượng của Hà Nội thật kỳ công, tinh xảo. Hoa tươi khắp nơi dưới trời Thu, Hà Nội thật đẹp. Nhưng có ai biết rằng những người công nhân vẫn còn lam lũ ấy đã vất vả và kiên nhẫn suốt ngày đêm: "Chúng nó nhổ cây, bẻ cành, giẫm nát, ta lại khôi phục, trồng mới; lại giẫm nát, lại trồng mới và chăm sóc cho luôn luôn hoa tươi!
   Không biết Hà Nội đã nhớ cảm ơn và khen thưởng những anh chị em làm vệ sinh môi trường và trồng hoa tươi chưa? Đó là hai lực lượng chính yếu đã làm đẹp cho Hà Nội nói chung và Đại Lễ nói riêng, tương phản với những gì còn lại!
   Tôi mở thiếp mời đám cưới ra để xem lại địa chỉ. Thiếp mời không phải viết chữ ta và có chữ "song hỉ" hay đôi bồ câu, đèn lồng như thường thấy. Bìa thiếp có chữ Wedding. Kính mời.... Tôi thầm nghĩ, hai vợ chồng cô này cùng ở quê đi bộ đội, chuyển ngành ra làm gì ở Hà Nội mà oai thế: thiếp mời kiểu Tây lại tổ chức đám cưới tại trung tâm Hà Nội, ngay cạnh Nhà hát lớn, ở một địa điểm sang trọng vào loại đẹp nhất của Hà Nội. Tôi đến trước giờ ăn một chút để tìm xem có ai ở quê ra còn trò chuyện. Kia rồi trong góc hội trường thấy một đám người lớn, trẻ em nhốn nháo đúng kiểu quê ta rồi. Tôi bước lại thì một chị lạnh lùng hỏi: "Bác nhà trai hay gái"?..."Nhà trai phía bên kia!". Tôi tiu nghỉu quay lại, nhìn phía nhà trai không thấy ai quen, toàn bộ đội, quan chức thì phải. Tôi định vào chỗ mấy mâm còn vắng đợi xem... thì cái bà đang đứng đó xua tay: "Ba mâm này nhà cháu đăng ký rồi!". Tôi quay ra cửa, bỏ phong bì vào cái hòm hình trái tim, rôi định đi về thì cô em họ, chủ tiệc, túm tay lôi vào, ấn ngồi xuống cái mâm còn khuyết một chỗ: "Báo cáo các thủ trưởng, đây là ông anh em!" Thế là tôi đã nhập cuộc... Tiếng MC oang oang qua 2 chiếc loa thùng cỡ đại, chỉ đạo cho "hội hôn" răm rắp làm theo: "Xin hội hôn nổ những tràng pháo tay thật ròn rã đón cô dâu, chú rể lên sân khấu!"...; " Mời thân phụ, thân mẫu cô dâu chú rể lên sân khấu!"; "Chú rể trao nhẫn cho cô dâu!"; "Cô dâu, chú rể cùng rót sâm - banh mời song thân"; "Các vị quý khách cùng hai họ rót bia đầy cốc chuẩn bị chúc mừng... Tôi hô 1,2,3... tất cả cùng zô, zô, zô... nhé!"... Rồi dàn "nhạc sống" ra sân khấu. Không thấy nhạc công đâu. Nhưng loa phát ra tiếng nhạc xập xình, réo rắt và ca sĩ uốn éo... mấp máy môi. Thế mà loa phát ra giọng hát của một ca sĩ chuyên nghiệp nào đó rất quen thuôc. Tôi quay sang ông bên canh: "Nó hát nhép à?". Ông thản nhiên: "Nó cho quả lừa, các cụ chả biết đâu!"...Ở dưới cứ ăn rào rào. Ở trên sân khấu các "nhép sĩ" cứ thay nhau trình diễn!...
   Tôi chuồn ra khỏi tiệc cưới lúc còn chưa tan, đến trước cửa Nhà hát Lớn lặng ngắm nó hồi lâu và chợt nhớ tới nhận xét của một người bạn Pháp nghiên cứu khá nhiều năm về Hà Nội: Ở Pháp đã diễn ra một quá trình Paris hóa nước Pháp thì ở Việt Nam lại diễn ra quá trình nông thôn hóa Hà Nội... Phải chăng đám cưới vừa nói cũng là một ví dụ? (Chứ đâu vì "ma chê, cưới trách" mà tôi lại kể ra!).
   Tôi đã hiểu ra điều gì đó. Tôi đã sống và làm việc ở Hà Nội hơn 40 năm. Đã làm việc, tiếp xúc với khá nhiều người Hà Nội gốc (tức là họ sống ở Hà Nội trước 10/10/1954). Vậy mà bây giờ tôi mới thực sự nhận ra mình vẫn là anh nhà quê, bắt đầu giác ngộ về Hà Nội. 


















   

Tôi thấy quá thương mến và cảm phục những người Hà Nội gốc. Trước sự ngang nhiên, ào ạt, nhập cư của những người nhà quê chúng tôi, người Hà Nội chỉ phản ứng một cách yếu ớt, tế nhị, kín đáo. Người nhà quê rất tự tin, hùng hổ đảo lộn cả Hà Nội, ngày càng nắm quyễn lãnh đạo từ phường cho đến quận, rồi cả thành phố và các cơ quan trung ương đóng tại Hà Nội. Người Hà Nội gốc thành thiểu số, họ co cụm lại và bền bỉ, khéo léo bảo vệ những giá trị của mình...Người Hà Nội khó có thể làm lãnh đạo, quản lý được trong bối cảnh xã hội mới, vì họ biết rộng, làm gì cũng cân nhắc cẩn trọng; họ quá nhạy cảm, tế nhị, ngại va chạm, sợ làm tổn thương người khác và rất sợ bị tổn thương... Với sự lịch lãm, tài hoa, tâm hồn phong phú, tinh tế của mình, họ thường sáng tạo được những giá trị cao trong các lĩnh vực khoa học, âm nhạc, hội họa, văn học... Còn lãnh đạo thời nay đòi hỏi phải biết mưu mẹo và đấu tranh, "dám nghĩ, dám làm" mọi chuyện, phải "dấy lên phong trào", "Quyết tâm phấn đấu", "Đồng loạt ra quân", "Chỉ đạo quyết liệt", "Quyết tâm đột phá"... Những thứ đó đều xa lạ với tư duy và cách ứng xử của người Hà Nội. Thế là người nhà quê chúng tôi được thể vừa nắm quyền, vừa làm giàu ào ạt trước con mắt ngỡ ngàng của người Hà Nội. Và chúng tôi đương nhiên thành người Hà Nội mới, đem lại cho Hà Nội một sức sống mới...  kiểu nhà quê! ("Hà Nội của cả nước"... mà!). Vì vậy Đại Lễ, theo quan điểm của người nhà quê chúng em nghĩa là phải vôi ve lại nhà cửa, phải làm thật to, phải dài ngày, phải thật nhiều khẩu hiệu, băng rôn, cờ phưỡn, kèn trống, loa đài tưng bừng khí thế, đèn xanh đỏ nhấp nháy khắp nơi, hàng quán bung ra bóp chẹt và người như nêm, chen nhau bẹp ruột, trai gái cấu véo nhau chí chóe...
   Ông cha ta nói đúng quá: giàu có thể một đời, còn sang phải ba đời. Cơ sự nó là như thế, mong được cảm thông và thành thật xin lỗi Hà Nội. 

20/10/2010

Thứ Sáu, 21 tháng 8, 2015

Hai trường hợp sinh con ở VN và ở Đức

Tôi kể 2 trường hợp sinh con mà tôi từng trải nghiệm ở VN và ở Đức này cho các bạn cùng suy ngẫm. Tôi cứ tự hỏi lòng, tại sao môi trường XHCN, môt xã hội được ngợi ca là "tuyệt vời", là "đỉnh cao của mọi thời đại" lại sản sinh ra những vị "lương y như từ̀ mẫu" khủng khiếp, vô trách nhiệm và cạn tình đến thế? Trong khi tại Đức, tôi chỉ là một người nước ngoài, đến đây "ăn bám" vào lòng nhân từ của họ, mặc dù tôi sang đây học và ở lại làm việc theo diện "Hợp tác lao động". Song sau khi nước Đức thống nhất, tôi cùng với khoảng gần 100 ngàn người khác trong diện này trở thành gánh nặng thực sự cho nước Đức, khi chẳng có đóng góp gì đáng kể vào nền kinh tế và an sinh xã hội tại Đức, ngược lại chỉ lo đi chợ kiếm tiền gửi về VN, góp phần làm rối loạn thì trường và xã hội Đức. Mặc dù tôi đã cố gắng làm tất cả những gì có thể để góp phần làm giảm bớt nỗi nhục này cho cộng đồng VN mình bằng mọi cách theo khả năng của mình.



Tôi sinh con gái đầu lòng tại Việt Nam:

Sau khi đi học nước ngoài về không lâu, chúng tôi làm lễ cưới, tôi mang thai con gái đầu lòng qua tháng thứ 8 thì bị động thai do chuyển nhà. Khi đó chồng tôi phải đi công tác vắng, mẹ chồng không muốn ở quê nên cứ dục giã tôi chuyển nhà ra ở riêng, không ở cùng ba mẹ tôi nữa để đón bà lên. Chờ thì không biết bao giờ chồng tôi mới được về, tôi tranh thủ xắp xếp rồi nhờ anh em bạn bè giúp một tay. Tưởng ít việc nhưng có bắt tay vào mới thấy trăm thứ phải làm. Song tôi là đứa lanh lẹ, lại có đầu óc tổ chức, nên trong 1 ngày, mọi việc cũng tạm ổn, mẹ chồng tôi phấn khởi lắm khi được ở cùng với con trai mình (vì bà chỉ có 2 đứa mà anh vừa là út vừa là trưởng). Bố chồng tôi là liệt sĩ trong thời kỳ chống Pháp.

Đêm về tôi mới thấy người đau ê ẩm và lâm râm đau bụng. Hôm sau tôi buộc phải vào viện. Nằm đó 2 tuần, điều trị tạm ổn, họ cho tôi ra viện, nhưng khi tôi ra viện, cô y sĩ nói:
“Em về đừng có làm việc gì nặng, gắng giữ thì được 2 tuần nữa, rồi cũng phải quay lại thôi”.
Sau đó 2 tuần thì tôi thấy đau bụng và khoảng 21 giờ nước ối bắt đầu chẩy. May lúc này chồng tôi cũng đã về, anh vội vã đưa tôi vào bệnh viện. Họ khám cho tôi và nói mới mở 2 phân, còn lâu mới đẻ vì là “con so”. Suốt đêm đó tôi đau lắm, nhưng tính gan lỳ và vì không muốn anh quá lo lắng, nên cứ cắn răng lần tường, vừa đi vừa rên rỉ, nước ối vẫn cứ chẩy. Suốt đêm đó chẳng ai hỏi han gì tới tôi cả. Sáng ngày hôm sau cho tới tận chiều, tôi cứ đau bụng khan vì nước ối đã chẩy hết rồi mà không ai hỏi tới. Chồng tôi sốt ruột chốc chốc lại ra níu những người mặc áo blu trắng qua lại hỏi về trường hợp của tôi, họ nói khi nào đau không chịu được nữa mới lên bàn.
Thấy vậy, chồng tôi bảo tôi la to lên cho họ phải quan tâm. Tôi vẫn không kêu, nhưng tới khoảng 16 giờ thì tôi đau quá, bụng lúc này hết nước nên xẹp xuống còn bé tí, không ai nghĩ tôi sắp đẻ. Tôi đành la to là tôi đau quá và muốn đẻ rồi, lúc đó cô y tá mới đưa tôi lên bàn và hứng chiếc xô bẩn ở dưới rồi bỏ đi nói là gọi bác sĩ.

Tôi đau quá nhưng không dám rặn vì sợ con mình rơi xuống xô, nên la to gọi chồng tôi, nhưng không có ai trả lời. Tôi gọi to trong sự sợ hãi tột cùng và cầu cứu xem có ai quanh đó giúp tôi không. Lúc đó có 1 bác cũng đưa con gái đi đẻ thấy vậy vừa chạy vừa kêu dọc hành lang là “Bác sĩ, y tá ơi, có người sắp sinh rồi”. Mãi mới thấy cô y tá, theo sau là bà bác sĩ chạy vào.
Do cố nhịn lâu quá, tôi cũng đã tái hết cả người và nói: “cháu muốn rặn quá rồi”.
Bà bác sĩ nói: “Rặn đi!” và vội vã đeo găng tay vào. Tôi lấy hơi và rặn mạnh, con bé tuột luôn ra, may mà cô y tá vơ kịp cái khay để dao kéo gần đó hứng vội, thế là cháu rơi vào giữa đống dao kéo, nhưng cả 2 người đó cùng kêu lên: “Sao nhỏ như con chuột thế này?” Nghe vậy, tôi lo lắng nhổm lên nhìn, thấy con gái tôi lúc đó thâm tím và bé chỉ bằng cái chai Cola 0,33l….và chẳng khóc được, chỉ hơi ngọ ngoạy.
Bà bác sĩ lúc này mới xỏ xong găng tay, túm chân con bé dốc ngược lên, lấy mấy ngón tay vỗ vào cái lưng bé tí xíu của nó, nước dãi dớt chẩy ra dòng dòng rồi cháu cũng bật khóc lên được. (Có lẽ nếu chậm thêm 1 phút thôi thì…..Tôi không dám nghĩ tiếp….
Cả bà bác sĩ, cô y tá và (nhất là tôi) thở hắt ra, vì như vậy là cháu sống…

Họ để con nhỏ lên bụng tôi để làm thủ thuật cắt rốn cho cháu. Cháu cứ lăn qua lăn lại và từ từ nhỉnh dần lên và hồng trở lại. Khi họ quấn cháu vào tã thì lúc đó cháu “sỉnh” lên bằng cái phích đựng nước nóng 1 lit rồi. Cả tã con bé mới được 2,4KG, hơi nhỏ nhưng được cái lành lặn và ngoan. Sau này tôi mới biết, có ai đó bảo chồng tôi phải đi về nhà nấu cơm mang vào, vì khi đẻ xong sẽ đói lắm, thế là anh nghe theo về luôn, mà không nói gì với tôi, vì nghĩ vợ được y sĩ đưa lên bàn rồi thì không lo nữa. Chứ anh có biết đâu họ bỏ mặc tôi như thế.
Khi cô y tá lấy cái siêu nước để rửa cho tôi, tôi thót tim vì nước lạnh quá, xít xoa nói là xót và lạnh quá, thế là bị cô ta mắng: “Được người ta hầu L. cho mà còn kêu cái gì? Xót là vì muối để sát trùng, còn lạnh cho chóng đông máu!”?
Phòng bệnh viện nhỏ mà có tới 6 chiếc giường, song may mắn không đến nỗi phải nằm đảo đầu chung nhau 2 người một giường như bây giờ.

19 ngày sau đó, tôi lại đau bụng dưới dữ dội. máu ra quá nhiều, phải đưa cấp cứu bệnh viện. Khi vào viện, ông bác sĩ phòng trực khám sơ qua, nói tôi bị “đau ruột thừa”, trong khi ruột thừa nằm ở phía dưới bên phải, mà tôi lại đau bên trái và phần giữa bụng ngay trên mu một chút. Tự tôi biết đó là dạ con, nhưng bác sĩ lại chuẩn đoán là đau ruột thừa, và cho tôi vào khoa nội.
Ở đây ông bác sĩ trực ngó qua loa tờ giấy, bảo cô y tá lấy máu để xét nghiệm. Sau đó họ bắt tôi uống thuốc xổ ruột và nói là khi nào đau thì gọi, rồi ông bác sĩ ôm cô y tá đi vào phòng riêng đóng cửa rúch rích trong đó.
Giữa đêm, tôi đau quặn đến phải gồng gập mình xuống, bấu chặt 10 móng tay xuống chiếu và cắn chặt răng tới bật máu môi, nhưng nhất quyết không gọi bác sĩ. (Ông BS này về sau vì vô trách nhiệm, làm chết 1 bà trên bàn mổ nên bị buộc nghỉ việc).
Chồng tôi thấy tôi đau quá, mà không làm gì giúp tôi được, lại nghe phòng bên cứ rúc rích, anh tức, mấy lần định đập cửa, nhưng tôi không cho, nói là mình biết BS chuẩn đoán sai, nên sợ ông ấy mổ lắm, chờ sáng hôm sau BS Toàn là người quen ba tôi tới ca trực hãy hay. Anh biết tôi nói đúng nhưng thương vợ, nên cả đêm cũng không ngủ được chút nào vì lo cho tôi. Tôi cũng chấn an anh: “Nếu em bị ruột thừa, thì vỡ từ chiều rồi, anh đừng lo!”
Sáng sớm hôm sau, do ba tôi có lời nhờ trước, BS Toàn đến rất sớm khám cho tôi. Nhìn kết quả xét nghiệm máu, bác sĩ nói: “Con gan lì chịu đau không kêu, chứ nếu kêu mà bị đưa lên bàn mổ thì con chết rồi, vì máu con quá loãng, lại mới đẻ dậy, nên cơ địa yếu, rất nguy hiểm. Con chỉ bị “xót nhau” thôi, để bác chuyển con qua khoa sản và nói để các cô dùng liệu pháp tiêm cho ra chứ không “nạo” vì con yếu và máu loãng quá.”
Nhờ trời, sau đó mẹ con tôi hồi phục nhanh.

Tôi sinh con trai út tại Đức:

Tôi sinh cháu bên Đức khi ở tuổi “đầu băm, đít chơi vơi” rồi. Kể từ khi biết mình có thai đi khám lần đầu, bà bác sĩ phòng mạch tư, (nhưng lấy tiền công của bệnh nhân từ quĩ bảo hiểm y tế nhà nước) đã rất quí tôi. Bà khám rất cẩn thận và mỗi lần đều chụp hình Ultraschall cho tôi xem, nên đến cuối tháng thứ 4, tôi đã biết mình sẽ sinh con trai.
Bà còn gửi tôi đi kiểm tra sự phát triển nội tạng của thai nhi từ khi mới được 5 tháng để còn “kịp can thiệp” nếu có sự cố. Bà cho tôi hẹn theo dõi thai nhi liên tục, vì huyết áp của tôi thấp hơn bình thường, tôi phải uống thêm thuốc bà cho. Vì vậy, khi mới có gợn khác thường, bà đã bắt tôi vào nằm viện.

Không biết có phải tôi được ưu tiên vì đã từng dịch giúp mấy chục trang “Hướng dẫn cho các bà mẹ VN trong khi sinh con” ở bệnh viện này, mà không lấy thù lao hay không. Hay tại “máu tôi loãng”, huyết áp thấp? Không biết nữa. Mới đầu họ cho tôi nằm phòng 1 giường (phòng VIP), đêm chồng tôi được ở lại “canh” tôi và ngủ tạm trên cái ghế Sofa gần đó, tất nhiên là có chăn gối của bệnh viện đàng hoàng. Được 1 đêm thì anh phải về nhà vì còn đi làm. Buồn nên tôi xin sang phòng 2 người (phòng 2 giường) cũng đầy đủ tiện nghi, 1 buồng tắm, Toilet, bể rửa mặt, nhưng không có Sofa như bên kia mà là 1 cái bàn, 2 chiếc ghế và mỗi đầu giường có 1 tủ nhỏ đựng đồ. Treo cuối thành giường là 1 chiếc nôi nhỏ giành cho con. Tất cả đều sạch bong, bóng láng, không hề có chút bụi nào, vì sáng sớm và chiều tối nào cũng có người vào lau dọn nền nhà, bậu cửa sổ, thành giường, tủ đựng đồ, chậu rửa mặt và cọ Toilet…..

Tới ngày thứ 3 qua màn hình, BS phát hiện con trai tôi uống nước ối đến căng phồng bụng. Trong khi đáng lẽ cháu chỉ ngậm rồi thổi ra để lấy không khí thôi mới đúng. Họ hỏi ý kiến tôi, xem có đồng ý dùng liệu pháp “truyền” để cho cu tí ra không? Tôi đồng ý, vì cũng cận ngày sinh và cũng bắt đầu có những cơn đau rồi.
Trong lúc truyền, chồng tôi cũng được khoác áo Blu luôn bên tôi, vì ở đây họ muốn cho người chồng chứng kiến giây phút đau đớn tột đỉnh của người vợ khi đẻ để giúp đỡ, động viên vợ vượt cạn và cảm thông mà trân trọng vợ sau này.
Cứ một lát lại có y tá hoặc bác sĩ ghé vào thăm. Khi thấy mở 2 phân, thì ngoài bà Bác sĩ trưởng khoa sản, cô y tá luôn bên tôi, còn có thêm 1 y sĩ trợ giúp, 1 bác sĩ khoa nhi, 1 bác sĩ khoa nội và 1 bác sĩ chuyên khoa hồi sức cấp cứu. Thấy 6 người quây quanh, tôi cũng thấy hơi sờ sợ, nên hỏi bà Bác sĩ trưởng khoa là: liệu tôi có đẻ bình thường không? Bà bác sĩ trưởng khoa sản nói: “Ngài yên tâm, tất cả đều bình thường, chúng tôi chỉ đề phòng để phục vụ tốt hơn cho ngài thôi”.
Tôi nhìn một lượt, ai cũng nhìn tôi với ánh mắt động viên, thân thiện. Cô y tá cúi xuống xoa xoa vào cánh tay tôi thì thầm: “Tất cả sẽ hoàn hảo, con trai ngài rất khỏe, ngài yên tâm!” Chỉ lát sau đó cơn đau đến dồn dập và dữ dội, bà bác sĩ bảo chồng tôi cùng y tá đỡ người tôi và làm theo lời bà hướng dẫn. Cô y sĩ đứng cạnh chuẩn bị dụng cụ, khăn….cho bác sĩ. Bà bác sĩ bảo tôi ngả người hít thật sâu rồi khi chồng tôi và cô y tá nâng gập người ngồi dậy thì rặn mạnh, phối hợp thật nhịp nhàng, đến lần thứ 3 thì cháu nhô được đầu ra nhưng mắc lại đó. Bà bảo đặt tôi nằm xuống, và rạch nhẹ để mở thêm cho rộng, rồi lóc tay nhẹ nhàng kéo cháu ra. Ra ngoài một chút thì cháu bật khóc oa oa rất to và sang sảng. Các bác sĩ xúm lại nhìn, kiểm tra máy móc, thấy mọi việc diễn ra bình thường, quay sang chúc mừng tôi và giải tán, chỉ còn lại 3 người khoa sản. Cô y tá vội chạy ra lấy nước ấm, khăn lau, băng xô….chuẩn bị sẵn. Bà bác sĩ sau khi cắt nhau cho cháu xong, thì khâu lại cho tôi, được 2 mũi thì đứt chỉ, bà xin lỗi và khâu lại, vừa khâu vừa xít xoa thương tôi đau, vì hơi lâu. Cô y sĩ thì tắm rửa cho cu tí.
Xong xuôi, bà bác sĩ bế thằng cu dơ lên cao cho tôi xem nói: “Thằng nhỏ này bố nó sẽ tự hào về nó lắm đây” và nói với tôi “Nó nặng 3Kg 55, dài 51Cm, rất đẹp!” rồi đặt cu cậu nằm cạnh tôi. Trong khi đó chồng tôi chụp ảnh cho 2 mẹ con. Cô y tá thì dấp khăn ấm nhẹ nhàng lau mặt, lau cổ và toàn thân cho tôi, đóng băng xô, thay váy áo mới cho tôi….Tất cả đều rất vui vẻ và nhẹ nhàng. Khi đẩy tôi về giường, 2 người nhẹ nhàng nâng tôi từ băng ca sang giường, đặt con trai tôi vào chiếc nôi gắn cuối giường dặn tôi là không phải lo cho thằng bé, sẽ có y tá chăm sóc. Tôi có nhiệm vụ phải ngủ để mau hồi sức, khi nào muốn đi tiều tiện hay đi ngoài, hoặc cần gì thì bấm chuông.
Họ bảo chồng tôi về làm đồ ăn cho tôi, nếu tôi không thích đồ bệnh viện và nói để cho tôi ngủ. Rồi họ chúc tôi ngủ ngon. Tôi nói muốn được ôm con ngủ. Họ đồng ý để cu tí nằm cạnh cho tôi ôm. Cháu được tắm mát, quần chặt nên ngủ im thi thít. Anh hôn tôi chúc mừng, thơm con rồi ra về. Một bà tây nằm giường bên sinh con trước tôi 1 ngày cũng chúc mừng tôi và nói tôi nên ngủ cho lại sức và chìa tay nắm lấy tay tôi thì thầm: “Hãy ngủ đi, mọi việc sẽ trở lại tuyệt vời” và cứ thế, tôi chìm vào giấc ngủ ngập tràn hạnh phúc.

Khi nghe tiếng nói, tôi tỉnh dậy thì đã thấy cô y tá ca trực sáng đến bảo tôi phải thay băng. Tôi tính nhổm dậy, nhưng cô nói cứ nằm yên, rồi lấy một chiếc bô dẹt chỉ cao khoảng 10 cm, luồn xuống dưới mông tôi, che vạt váy và nói tôi cứ tự nhiên mà tiểu tiện ngay tại giường, Tôi xấu hổ, cứ đòi xuống, nhưng cô ta không nghe. Sau đó cô ấy lấy nước ấm dội từ từ, rồi hỏi tôi là có dễ chịu không? Sau khi thay sạch sẽ cho tôi, cô nói chờ lát cô lau người cho. Rồi lại lấy khăn lau mặt, lau người, thay váy áo cho tôi. Cô đưa tôi cốc nước có thuốc súc miệng để xúc miệng…..Tất cả đều được cô phục vụ chu đáo, tận tình, mặc dù tôi là “người nước ngoài”, không hề có chút gì phân biệt.
Một lát sau đó là nhóm y, bác sỹ của khoa tháp tùng Giám đốc bệnh viện đi từng giường thăm hỏi bệnh nhân. Khi nghe tôi bị rạch vì con to quá so với độ dãn cổ tử cung. Và đang khâu thì bị đứt chỉ. Bác sĩ giám đốc xoa tay tôi và nói: “Ngài đã dũng cảm khi “vượt cạn”, thì chắc chắn Ngài sẽ hồi phục nhanh thôi.” Rồi ông hỏi tôi có đề nghị gì không? Tôi cám ơn ông, ông dặn tôi cần gì cứ mạnh dạn gọi y tá. Ông chúc tôi mau khỏe trở lại, rồi tạm biệt để sang thăm bệnh nhân bên cạnh.

Sau 10 ngày nằm viện được chăm sóc chu đáo, trước khi ra viện, tôi bảo chồng tôi mua 1 bó hoa và 1 Katon rượu Sâm banh, đưa 4 chai để cám ơn tất cả y bác sĩ trong khoa. 2 chai tặng Bác sĩ và y tá phòng khám và theo dõi thai cho tôi tới lúc sinh.
Tất cả đều vui vẻ và thật tình người.


Thứ Năm, 20 tháng 8, 2015

Xin đừng ghét em!



Đừng ghét nhé, xin người thôi đừng ghét
Trăng khuyết tròn vẫn da diết thân thương
Mình phải xa, dẫu mỗi đứa một phương
Đêm thở dài, giọt vô thường ướt má
Đừng ghét em, bởi anh là tất cả
Là nắng xuân, cho cây lá tươi xanh
Cho hoa thơm, chim, bướm lượn đầu cành
Sóng nôn nao giữa biển xanh bát ngát
Anh là đêm trăng, cho ý thơ dào dạt
Là cơn mưa gợi khao khát đáy lòng
Là những canh dài trăn trở nỗi nhớ mong
Là hương gió phập phồng trong chờ đợi
Xin đừng ghét em, mở lòng chìa tay tới
Cho ngày mai đời lại nở hoa xuân
Cho tình yêu dù xa vắng vẫn gần
Cho niềm tin nối tình thân bền vững
Xin đừng ghét, cũng xin đừng chịu đựng
Hãy thật lòng, tặng nhau những ngày vui
Xua tan đi mọi cay đắng ngậm ngùi
Đau quá khứ chôn vùi vào dĩ vãng.


TSB 06.2015

Thứ Tư, 19 tháng 8, 2015

Hình ảnh Ấp Phú Hữu 1967 nói lên điều gì?





Từ năm 1967 mà dân quê miền Nam đã sướng thế này rồi. Cuộc sống thật thanh bình, trẻ con, người già quấn quýt cố vấn Mỹ còn hơn trẻ con Miền Bắc xưa tò mò sợ hãi đứng từ xa nhìn mấy ông cố vấn LX. Vậy tại sao lại phải "giải phóng" họ để khoác nợ chiến tranh và mang ơn của TQ, LX? Để rồi tiếp tục mất biển, đảo của mình cho TQ, mà không dám lên tiếng mạnh mẽ như Philippin vì sợ???

Ai trả lời giùm tôi câu hỏi này?

Họ cứ chê bai VNCH phải nhờ vào viện trợ của Mỹ. Nhưng tôi không thấy Mỹ đòi nợ VNCH, ngược lại, còn cưu mang hàng triệu người VN tỵ nạn, tạo điều kiện sống tốt cho cộng đồng người Việt tỵ nạn có tiền để cứu trợ và đầu tư về VN, góp phần khá lớn vào sự phát triển đất nước.

Giờ đây, đứng trước nguy cơ VN bị TQ chèn ép, mất hoàn toàn Biển Đông, lại chỉ có Mỹ là nước mạnh dạn lên tiếng ngăn chặn, tố cáo và nhiệt tình giúp VN chống lại bọn bành trướng Bắc Kinh.

Còn LX và TQ trước kia "giúp VN chống Mỹ" chẳng qua để bảo vệ thành trì CS cho họ. Họ quyết tâm "đánh Mỹ tới người Việt cuối cùng"- lời Mao Trạch Đông. Thế là VN phải "mang ơn" họ. Hàng trăm ngàn lao động phải đi làm việc tại Nga và các nước Đông Âu XHCN để trả nợ chiến tranh.

Khi TQ và LX bất hoà, dân VN phải đổ máu vì theo bên này, thì không thể theo bên kia.

Còn nợ TQ thì biển đảo, biên giới, đất liền cứ bị TQ "liếm" teo tóp dần.
Mỗi khi TQ dở chứng, nổi giận lại "dậy cho VN một bài học" là nhân dân VN lại thịt nát xương tan vì "người anh em môi hở, răng lạnh", "4 tốt 16 chữ vàng". Trong khi đó LX cũng quay lưng, mặc cho TQ đánh VN. Cả thế giới cũng im lặng, mặc cho những "người anh em CS" đánh nhau.

Đã vậy, nền kinh tế VN ngày nay dù lãnh đạo VN biết, nếu phụ thuộc vào TQ sẽ không bao giờ ngóc đầu lên được. Tương lai con cháu trở thành những kẻ làm thuê cho TQ, bị bóc lột tới tận xương tủy, môi trường sẽ bị hủy hoại, đời sống người dân sẽ cực khổ, đói nghhèo vì cách họ khu xử với chính dân họ là sự tàn độc đến kinh khủng. Song Đảng CSVN đã lỡ mang "ơn huệ" - có nghĩa là "ơn" TQ giúp đánh chiếm MN thâu tóm toàn bộ quyền lợi độc tôn, và lãnh đạo cũng đã lỡ nhận tiền "huệ" của TQ trao tay làm giầu rêng bản thân - Ho lại không muốn mất độc quyền lãnh đạo, nhằm vơ vét toàn bộ lợi, quyền về tay riêng đảng, nên cố gắng lừa dân đi theo con đường XHCN, mà họ biết là mù mịt không tưởng, trong khi hầu như toàn thế giới đã từ bỏ nó. Chỉ còn xót lại 3 nước CS độc tài là TQ, VN và Triều Tiên. TQ đang rơi vào khủng hoảng dù cố bịt. Triều Tiên thì đang đói dài. VN cũng đang trên bờ vực phá sản, nếu Mỹ không cứu bằng TPP.

Như vậy, ĐCS lâu nay chỉ lo cho quyền lợi của riêng mình chứ đâu có vì quyền lợi dân tộc nữa?

Cha ông chúng ta ngày xưa hy sinh vì lý tưởng làm "Cách mạng" cho nước nhà độc lập, dân được sống tự do, hạnh phúc, đất nước phát triển, dân giầu nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, thịnh vượng. Ch́ứ có ai biết CNCS là gì đâu? Ai biết học thuyết Mác - Lê trong thực tiễn sẽ thế nào? Chỉ bị ĐCSVN lôi vào "cuộc đấu tranh giai cấp" diệt trừ "đế quốc phong kiến", tiêu diệt tầng lớp tư sản, tiểu tư sản thành thị và tầng lớp trung, phú nông, địa chủ ở nông thôn, để lập nên một tầng lớp đại tư bản bóc lộ̣t, trấn cướp vô lương tâm, không nhân tính, giầu gấp ngàn lần tụi "đế quốc phong kiến" xưa ở khắp mọi nơi từ trung ương tới địa phương hiện nay.

Cái viễn cảnh một đất nước XHCN mà ĐCS vẽ ra cho dân, tôi thấy nó gần với xã hội của các nước "tư bản đang giẫy chết" hơn, nó chỉ khác các nước tư bản là ở đó chỉ có ĐCS mới có toàn quyền lãnh đạo, toàn quyẻ̀n điều hành đất nước, toàn quyền vơ vét lợi lộc, toàn quyền ra lệnh bắt quân đội, CA đàn áp dân để cướp đất, phá nhà, tống giam những người dân thấp cổ bé họ̣ng, toàn quyền bắt dân phải ngợi ca, tuân thủ và làm theo những gì đảng ra chỉ thị và yêu cầu. Nếu không, sẽ bị gọi là "phản động", "chống người thi hành công vụ", "làm rối trật tự trị an" và cao hơn nữa là bị suy diễn "chống lại nhà nước nhân dân, do dân làm chủ" nhưng chỉ có một nhóm lãnh đạo đảng mới có quyền quyết định tất cả.

Còn ở các nước tư bản thì ngược lại, nhân dân có quyền bầu lên người lãnh đạo, và cũng có quyền đòi phế truất họ bất cứ lúc nào. Nhân dân có quyền quyết định vận mệnh đất nước, có quyền ủng hộ hay phản đối mọi chính sách của chính phủ̉ một cách ôn hòa. Chính phủ làm mọi việc thực sự vì dân, cho dân, thể theo nguyện vọng của dân. Nhân viên công quyền ăn lương từ thuế dân, nên rất nhẫn nại, nhã nhặn, tận tình, lịch sự trước dân và có trách nhiệm hướng dẫn, giúp đỡ, bảo vệ nhân dân. An sinh XH ở đó được đảm bảo, tất cả trẻ em đều có trách nhiệm tới trường mà không phải đóng bất cứ thứ lệ phí hay đóng góp nào. Ai có khả năng sẽ được trọng dụng với mức lương xứng đáng. Ai không có khả năng, nhưng chăm chỉ cũng có cuộc sống thoải mái và thừa tiền đi du lịch hàng năm. Người nghèo ở đó cũng có cuộc sống đầy đủ, không phải lang thang đói rách khổ sở.

Các bạn thấy VN ta nên chọn con đường nào cho dân tộc mình? Một XH của CNCS mà lãnh đạo độc tài hình mẫu như TQ và Triều Tiên? Hay một XH văn minh thịnh vượng như các nước "Tư bản đang giẫy chết" như Mỹ và các nước Đức, Anh Pháp...?



Tiếng Sóng Biển

Thứ Hai, 17 tháng 8, 2015

Tháng tám xa anh



Tháng tám Sài Gòn đỏ con mắt thu
Mưa day dứt, nắng chợt đuà trốn mất
Đêm trở trăn giọt đắng xa hóa mật
Như đôi mắt nai lúng liếng ru hồn
Niềm đau tháng tám gọi những nụ hôn
Muốn xóa hết nỗi buồn em day dứt....

Giận hờn, xót xa trải lòng chân thực
Muốn quên đi, lại náo nức đợi chờ
Mãi dối lòng ấp ủ một trời mơ
Ngày trở lại bao giờ anh mới nhớ?
Non trăng sũng nước, mắt huyền chong mở
Ngóng trời xa heo hắt nắng chẳng về
Thơ ru tình an ủi chốn phòng khuê
Đêm đơn chiếc, ôm gối thề đơn lạnh
Thu úa vàng, giọt tình rơi lóng lánh
Mãi chờ anh trong cảnh lá rơi sầu
Thơ thở dài nhắc anh nhớ về nhau
Nuôi hy vọng ngày qua mau bớt oải.
Tháng tám đơn côi, đem lòng hong trải
Mong nắng về, thu trở lại yên lành.

Tiếng Sóng Biển

Thứ Năm, 6 tháng 8, 2015

Bác cũng sẽ khóc

Tượng đài Bác Hồ bắt chước theo hình mẫu tượng đài Mao Trạch Đông đã được chính quyền cho xây dựng ở nhiều tỉnh thành.


TSB đọc tin Sơn La quyết định chi 1.400 tỷ đồng để xây khu tượng đài và quảng trường trong khi nhân dân đói nghèo. Trẻ con không đủ cái ăn, cái mặc, phải đu dây qua suối đi học. Trường lớp xập xệ. Người già và tàn tật không được trợ cấp cho đủ sống... mà thấy nghẹn đắng trong lòng.

Nhìn lại cả nước, mới thấy bao năm nay chính phủ đã để cho một lượng tiền quá lớn của các tỉnh "đầu tư" vào những việc không mang lại hiệu quả kinh tế, làm phản tuyên truyền, khiế́n nhân dân  mất dần lòng tin và bất mãn với chế độ.

Trong khi đất nước còn nhiều việc phải làm như: dốc lực khuyến khích thúc đẩy nền công nghiệp sản xuất đồ tiêu dùng và công nghiệp phụ trợ phát triển để làm sao có sản phẩm tinh xảo, đạt chất lượng quốc tế, thu hút người tiêu dùng VN, xuất khẩu và sẵn sàng phục vụ cho các xí nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô, máy móc của các tập đoàn đầu tư lớn tại VN, tiết kiệm chi phí vận chuyển và chi phí nhập khẩu linh kiện, cũng như tạo cơ hội việc làm có thu nhập cao cho nhân dân VN.

Hoặc chí ít cũng trợ cấp thêm cho ngành bảo hiểm y tế nhà nước nhằm khuyến khích toàn dân có bảo hiểm y tế, để đảm bảo an sinh xã hội, cho phép các phòng khám tư nhân hoạt động thu phí theo qui định để giảm tải các bệnh viện. Kiểm soát chặt chẽ các hiệu bán thuốc, dẹp hoàn toàn nạn bán thuốc lậu. Trợ cấp thêm cho người hưu trí, để khuyến khích mọi người đi làm và người làm công ăn lương thích đóng bảo hiểm hưu trí, bảo hiểm thất nghiệp.

Trợ cấp cho học sinh phổ thông học miễn phí hoàn toàn, vì đó là tương lai đất nước. Xây dựng trường lớp cho học sinh vùng sâu, vùng xa. Tạo đều kiện cho các cháu ăn, ở sinh hoạt tập trung vì nhà xa.

Làm lại hệ thống cấp thoát nước thành phố, có qui định và kiểm soát chặt chẽ cho việc xả nước của từng nhà máy thủy điện. Rà soát lại hệ thống mương ngòi thoát nước khi cấp bách. Nạo vét lòng sông để thoái lũ.

Trợ vốn cho dân nghèo phát triển nông nghiệp. Tìm giải pháp phân vùng trồng sản phẩm hợp lý với từng vùng đất, bao tiêu, xuất khẩu sản phẩm cho nông dân.

Còn nhiều việc lắm cần phải làm để đảm bảo đời sống cho người dân, thì chính phủ đã để lượng tiền này chẩy vào việc xây đình, đền, đài, nhà tưởng niệm, các khu quảng trường, sân golf, khu nghỉ dưỡng quá sang trọng, các khu nhà cao cấp quá sa hoa, các khu hành chính quá đồ sộ, khiến các cán bộ nhân viên nhà nước bỗng trở thành quan cách, xa lạ với dân, và càng hống hách, hoạnh họe dân hơn.

Trong khi Bác Hồ nói rằng: "Cán bộ là đầy tớ cho dân", họ ăn lương từ tiền thuế của dân, thì phải có trách nhiệm phục vụ nhân dân hết mình, làm việc thực sự đủ 8 giờ trong ngày, giải quyết mọi điều dân thắc mắc, hướng dẫn dân thực thi đúng pháp luật, chứ không phải hành dân và tiếp đãi nhau ngoài khách sạn, nhà̀ hàng hay tìm cách bao biện, thanh minh những việc làm sai trái của lãnh đạo.

Nhìn về VN mà tức giận khi thấy họ mượn danh "đó là tình cảm và nguyện vọng của đồng bào" nhưng thực tế che đậy lòng tham vô đáy của những kẻ đương quyền. Ai không biết mỗi một tượng đài, cán bộ ít nhất cũng bỏ túi 30% trong số đó?

Bài thơ này là nỗi lòng của TSB gửi về quê hương. Và tôi tin, Bác Hồ không cần tượng đài vẫn sẽ sống mãi trong lòng dân tộc, nếu lãnh đạo Đảng và nhà nước thực hiện đúng lời Bác dậy. Làm ngược lại, thì dù có xây hàng trăm ngàn tượng đài hoành tráng, cũng chẳng có chút giá trị nào khi chế độ sản sinh ra "một bầy sâu" tham nhũng.

Bác Hồ khóc, khi dân tình đói khổ
Khi đình đền chiếm chỗ tốt để xây
Bác cũng khóc, khi bọn chúng ra tay
Cướp đất dân từng ngày trao Trung Quốc

Bác sẽ khóc, khi nguy cơ mất nước
Mất đất liền, mất đảo trước, biển sau
Bác Hồ khóc, khi họ mặc dân đau
Bỏ dân đói, giành chia nhau lợi nhuận.

Bác sẽ khóc và vô cùng tức giận
Khi cán bộ táng tận hết lương tâm
Dân nghèo khó mà Đảng vạch phương châm
Hàng ngàn tỷ đầu tư “lầm” xây tượng

Bác chỉ mong cho dân được sung sướng
Hạnh phúc, ấm no, được hưởng hòa bình
Hãy nhớ rằng bao người đã hy sinh
Cho dân tộc vươn mình lên phát triển

Bác hằng mong, suốt cuộc đời cống hiến
Sống giản dị và tiết kiệm vì dân
Xây tượng đài hoành tráng, Bác đâu cần?
Tự do, Dân chủ đích dành dân tất cả

Bác sẽ đau lòng, khi lãnh đạo sa ngã
Sống đế vương, vơ hết cả về mình
Lừa dân, dối bạn, quên người hy sinh
Vì lợi nhuận, hèn cúi mình trước giặc

Bác sẽ phải khóc, khi nhìn lại xã tắc
Lớp trẻ đảo điên, sống thác loạn cuồng si
Lãnh đạo suy đồi, đạo đức chẳng ra gì
Toàn tham nhũng hay phung phí, nhu nhược

Chia bè phái, chẳng ai lo cho nước
Mải tranh quyền, bị Trung Quốc giật dây
Bác cũng khóc, khi dân chẳng ra tay
Phế “lũ mọt”, diệt “sâu bầy” thối nát

Để Việt Nam bị Trung Quốc bắt nạt
Con cháu Rồng tiên chua chát đắng cay
Phận làm nô, dù có “cất cánh bay”
Cũng đội đít quan thầy Trung mãi mãi

Hỡi Trí thức, doanh nhân, sinh viên, dân oan, công nhân ....đừng ngại
Bác Hồ trên cao luôn mãi ủng hộ dân
Bác vẫn nói:
Cán bộ phải chuyên cần
Phải liêm khiết, phải vì dân cống hiến
Phải giản dị, làm gương sáng, tiết kiệm
Trung với nước, hiếu với dân
Đứng trước giặc phải dấn thân không ngại
Lời Bác dạy, còn ghi lòng này mãi
Kẻ nào sai ta phải thẳng tay trừ
Bè lũ phản bội, bị nguyền rủa ngàn thu
Đoàn kết lại, chống kẻ thù truyền kiếp.


Tiếng Sóng Biển